Dầu nhớt được cấu tạo từ dầu gốc và các chất là phụ gia dùng để bôi trơn các thành phần cơ khí, làm giảm ma sát giữa các bộ phận chuyển động. Dầu gốc chiếm 75-80% trọng lượng; còn các chất phụ gia tuy chỉ chiếm thành phần nhỏ nhưng quyết định sự khác nhau về chất lượng dầu nhớt.

Thế nào là dầu nhớt?

Dầu nhớt là loại dầu dùng để bôi trơn cho các động cơ, máy móc. Dầu nhờn là hỗn hợp bao gồm dầu gốc và phụ gia, hay người ta thường gọi là dầu nhờn thương phẩm. Phụ gia thêm vào với mục đích là giúp cho dầu nhờn thương phẩm có được những tính chất phù hợp với chỉ tiêu đề ra mà dầu gốc không có được.

Thành phần cơ bản của dầu nhớt

Thành phần chính cấu tạo nên dầu nhớt

Dầu nhớt được chế tạo từ 2 thành phần chính là dầu gốc và phụ gia. Từ đó tạo ra dầu nhớt thương phẩm chạy trong các động cơ xe ngày nay.

1. Dầu gốc

Dầu gốc là dầu thu được sau quá trình chế biến, xử lý tổng hợp bằng các quá trình xử lý vật lý và hóa học. Thường chiếm tỷ lệ từ 70-90% khối lượng của dầu thành phẩm. Dầu gốc thông thường gồm có ba loại là: dầu khoáng, dầu tổng hợp và dầu bán tổng hợp.

- Dầu gốc khoáng: được tách ra từ dầu thô qua quá trình lọc hóa dầu. Có chi phí sản xuất thấp.

- Dầu gốc tổng hợp (fully synthetic): được chế biến từ việc tổng hợp (qua quá trình xử lý hóa học, vật lý); các thành phần của hydrocacbon từ dầu thô hoặc các chất liệu khác. ƯU ĐIỂM: có khoảng nhiệt độ hoạt đông rộng, thời gian thay dầu kéo dài, ít tiêu hao và bảo vệ động cơ tốt hơn nhưng chi phí sản xuất cao.

- Dầu gốc bán tổng hợp (semi synthetic): có thành phần pha trộn giữa dầu khoáng và dầu tổng hợp (chiếm khoảng 10%). Chi phí sản xuất hợp lý cho chất lượng tương đối tốt.

Thành phần cơ bản của dầu nhớt

2. Thành phần của các chất phụ gia

Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, vô cơ, thậm chí là những nguyên tố hóa học được thêm vào chất bôi trơn. Các chất phụ gia chiếm khoảng 10-30% quyết định sự khác nhau về chất lượng dầu nhớt bao gồm:

- Phụ gia cải thiện chỉ số độ nhớt: là các Polymer (chỉ có trong các loại dầu nhớt đa cấp); giúp cho dầu nhớt hoạt động ở trong các điều kiện nhiệt độ khác nhau.

- Phụ gia chống oxy hóa: làm chậm quá trình oxy hóa, khắc phục hiện tượng cháy vòng găng; giảm ăn mòn chi tiết và tạo cặn…

- Phụ gia chống mài mòn: tăng khả năng bám dính trên bề mặt kim loại; nhằm giảm sự cọ sát trong quá trình làm việc của động cơ.

- Phụ gia tẩy rửa: ngăn cản, loại trừ các cặn không tan trong dầu, cặn sạn, cacbon và các hợp chất chì trong các bộ phận của động cơ đốt trong…

- Phụ gia phân tán: ngăn ngừa làm chậm quá trình tạo cặn và lắng đọng trong điều kiện nhiệt độ thấp.

- Phụ gia ức chế ăn mòn: làm giảm việc tạo thành các peoxit hữu cơ, axit và các thành phần oxy hóa khác làm xuống cấp dầu động cơ.

- Phụ gia biến tính, giảm ma sát: Làm tăng độ bền của màng dầu, giữ bề mặt kim loại tách rời nhau. Ngăn không cho lớp dầu bị phá hoại trong điều kiện tải trọng lớn hoặc nhiệt độ cao

- Phụ gia ức chế gỉ: chống gỉ khi động cơ ngừng hoạt động trong thời gian dài.

- Phụ gia hạ điểm đông đặc: ở nhiệt độ thấp thì khả năng lưu động của dầu sẽ giảm. Vì vậy phụ gia hạ điểm đông đặc nhằm hạ thấp nhiệt độ đông đặc của dầu.

- Phụ gia ức chế tạo bọt: bọt do không khí trộn mạnh vào dầu nhớt làm ảnh hưởng xấu đến tính chất bôi trơn. Làm tăng sự oxy hóa của chúng,ngăn cản sự lưu thông của dầu gây ra hiện tượng bôi trơn không đầy đủ. Để tránh sự tạo bọt người ta sử dụng phụ gia chống tạo bọt.

Tùy theo các nhà sản xuất khác nhau sẽ có công thức, cách pha chế khác nhau. Để cho ra đời các sản phẩm đáp ứng các yêu cầu của từng loại động cơ; với mức độ bôi trơn và điều kiện làm việc khác nhau.

Thành phần cơ bản của dầu nhớt

Xem thêm

Bài viết liên quan

Nhập và gửi Ý kiến, đánh giá